Xuất khẩu bứt phá mạnh, lộ diện 4 nhóm hàng trên 1 tỷ USD

Theo số liệu thống kê sơ bộ Cục Hải quan vừa công bố, trong nửa đầu tháng 8, có tới 4 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, cùng dệt may.

Xuất khẩu cà phê tăng mạnh đạt 6,2 tỷ USD tính từ đầu năm đến ngày 15/8.

Điện tử và máy móc là “đầu tàu” tăng trưởng

Theo Cục Hải quan, từ đầu năm đến hết ngày 15/8, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 282,6 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương tăng thêm gần 37 tỷ USD. Cùng với nhập khẩu, tổng kim ngạch hai chiều đạt 555,2 tỷ USD, tăng 16,6%, đưa cán cân thương mại thặng dư hơn 10 tỷ USD. Đây là mức thặng dư quan trọng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu phục hồi chưa đồng đều.

Đóng góp cho xuất khẩu của cả nước, nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục dẫn đầu với trị giá gần 4,6 tỷ USD trong nửa đầu tháng 8, nâng kim ngạch của nhóm này từ đầu năm đến ngày 15/8 đạt 61,3 tỷ USD, tăng 42,6%, tương ứng tăng thêm 18,3 tỷ USD. Đây chính là động lực tăng trưởng mạnh mẽ nhất, phản ánh xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vào Việt Nam.

Nhóm sản phẩm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng cũng đạt kết quả ấn tượng khi đạt 34,6 tỷ USD, tăng 14,9%, tương ứng tăng 4,4 tỷ USD. Sự tăng trưởng ổn định của hai ngành hàng này đang giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu, nhất là khi nhiều tập đoàn lớn tiếp tục mở rộng nhà máy tại các địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên.

Trong khi đó, điện thoại và linh kiện, nhóm hàng tỷ USD truyền thống đạt gần 35 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái.

Không chỉ nhóm công nghiệp, các mặt hàng nông sản chủ lực cũng bứt phá nhờ giá thế giới duy trì ở mức cao. Cà phê là điểm sáng khi đạt 6,2 tỷ USD tính đến giữa tháng 8, tăng tới 62,8% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương tăng thêm 2,4 tỷ USD. Giá cà phê thế giới tăng kỷ lục đã giúp ngành hàng này trở thành mặt hàng gây bất ngờ trong xuất khẩu nông sản năm nay.

Gạo tiếp tục giữ vị trí quan trọng với kim ngạch vượt 3 tỷ USD, khối lượng xuất khẩu đạt 5,8 triệu tấn và giá bình quân hơn 512 USD/tấn – mức giá cao, phản ánh lợi thế cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường. Bên cạnh đó, hạt tiêu cũng ghi dấu khi kim ngạch vượt 1 tỷ USD, tăng 28,4% dù lượng xuất khẩu giảm, cho thấy giá trị gia tăng từ thị trường tiêu dùng đang chuyển biến tích cực.

Ngoài ra, trong nửa đầu tháng 8, xuất khẩu dệt may đạt tới 1,8 tỷ USD, nâng kim ngạch nhóm hàng này từ đầu năm đến giữa tháng 8 đạt 24,4 tỷ USD, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái.

Doanh nghiệp FDI còn chiếm tỷ trọng lớn

Trao đổi với PV Tiền Phong , chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đánh giá sự tăng trưởng mạnh của nhóm điện tử, máy móc cùng nông sản tỷ USD là tín hiệu đáng mừng, giúp củng cố nền tảng xuất khẩu. Tuy nhiên, việc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đóng vai trò chủ lực khi chiếm tới 74,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, cho thấy sự phụ thuộc lớn của Việt Nam vào các doanh nghiệp, tập đoàn FDI; đặt ra yêu cầu năng lực tự chủ của doanh nghiệp trong nước.

“Tình hình thế giới còn tiềm ẩn nhiều bất định, từ nhu cầu tiêu dùng tại Mỹ và EU cho đến chính sách thương mại mới, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đa dạng hóa thị trường và nâng chuẩn chất lượng hàng hóa. Đặc biệt, chính sách thuế quan của Mỹ đặt ra sự tranh mới giữa hàng hoá các nước, nên hơn lúc nào doanh nghiệp Việt cần củng cố năng lực sản xuất của mình để giảm thiểu những rủi ro, tác động”, ông Doanh nói.

Nhận định tình hình chính trị, kinh tế thế giới từ nay đến cuối năm tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, Bộ Công Thương cho biết, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,3 đến 8,5% trong năm 2025, bộ sẽ tiếp tục thực hiện tốt việc kết nối giúp các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn toàn cầu, tạo thị trường cho các ngành công nghiệp phát triển.

Bộ Công Thương sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp, hiệp hội, ngành hàng khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà nước ta là thành viên; đồng thời đẩy nhanh tiến độ đàm phán nâng cấp các FTA hiện có và ký kết các FTA mới với các đối tác tiềm năng nhằm đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm và chuỗi cung ứng.

Nguồn: Tienphong

Thị trường tỷ USD mang tên ‘khách hàng trung thành’

Cuộc đua trên thị trường khách hàng trung thành tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, khi ưu thế thuộc về các doanh nghiệp sẵn sàng xây dựng hệ sinh thái mở.

Thị trường khách hàng thân thiết (loyalty) của Việt Nam sẽ sớm cán mốc tỷ USD. Ảnh: DN

Thị trường mới mà cũ
Kinh tế số phát triển cũng là lúc khái niệm về lòng trung thành của khách hàng tại Việt Nam đang được định giá lại. Nó không còn đơn thuần là những tấm thẻ thành viên hay chương trình giảm giá định kỳ, mà đã trở thành một thị trường tiềm năng.

Theo báo cáo từ Research and Market năm 2024, thị trường khách hàng thân thiết (loyalty) của Việt Nam ước tính đạt 542,4 triệu USD vào năm 2025 và có thể tăng trưởng lên 971,2 triệu USD vào năm 2029, với tốc độ tăng trưởng 18,2% mỗi năm.

Những con số trên cho thấy việc đầu tư vào giữ chân khách hàng không còn là một lựa chọn, mà là một chiến lược sống còn với doanh nghiệp, nơi chi phí để thu hút một khách hàng mới luôn cao hơn nhiều so với việc giữ chân một khách hàng hiện hữu.

Tuy nhiên, đằng sau tiềm năng khổng lồ là những thách thức không hề nhỏ, tạo ra một nghịch lý lớn cho các doanh nghiệp. Báo cáo “Vietnam Loyalty Market Outlook to 2030” của Ken Research đã chỉ rõ những rào cản cố hữu.

Đầu tiên là sự phân mảnh nền tảng. Mỗi thương hiệu, từ chuỗi cà phê, siêu thị đến hãng thời trang, đều cố gắng xây dựng một hệ thống tích điểm của riêng mình. Điều này dẫn đến tình trạng người tiêu dùng phải quản lý hàng chục ứng dụng và loại điểm thưởng khác nhau, gây ra sự phiền toái và làm giảm giá trị thực tế của điểm thưởng.

Thách thức thứ hai là chi phí vận hành và xây dựng hệ thống. Để có một chương trình loyalty đủ hấp dẫn, doanh nghiệp phải đầu tư lớn vào công nghệ, nhân sự và quan trọng nhất là một kho quà tặng đa dạng.

Đây là một gánh nặng tài chính đáng kể, đặc biệt với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), khiến họ yếu thế trong cuộc đua giữ chân khách hàng so với các tập đoàn lớn.

Cuối cùng, những lo ngại về quyền riêng tư dữ liệu theo các quy định ngày càng chặt chẽ và hạn chế về cơ sở hạ tầng ở các khu vực ngoài đô thị lớn cũng là những yếu tố cản trở việc triển khai các chương trình loyalty một cách đồng bộ và hiệu quả.

Bức tranh chung cho thấy một thị trường màu mỡ nhưng đầy rẫy chướng ngại vật, đòi hỏi một lời giải đột phá hơn là cách tiếp cận truyền thống.

Cách tiếp cận mới cho mô hình khách hàng trung thành
Để giải quyết bài toán phức tạp trên, thị trường đang chứng kiến sự chuyển dịch từ mô hình ứng dụng khép kín sang các “hệ sinh thái mở” và liên minh chiến lược.

Thay vì cạnh tranh đơn độc, các doanh nghiệp bắt đầu hợp tác để tạo ra một sân chơi chung, nơi điểm thưởng của khách hàng có thể được liên thông, có giá trị quy đổi rộng khắp. Xu hướng này không chỉ giúp tối ưu chi phí mà còn nâng cao đáng kể trải nghiệm của người dùng cuối.

Một ví dụ điển hình cho sự chuyển dịch này là mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa LynkiD, một nền tảng loyalty mở, và Got It, một trong những nền tảng quà tặng số hàng đầu tại Việt Nam. Sự kết hợp này không phải là một phép cộng đơn thuần, mà là một giải pháp cộng hưởng nhằm tháo gỡ trực tiếp những nút thắt của thị trường.

LynkiD hoạt động như một nền tảng trung gian, cho phép các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau kết nối chương trình khách hàng thân thiết của họ vào một mạng lưới chung.

Thông qua LynkiD, doanh nghiệp có thể phát hành, quản lý và liên kết điểm thưởng. Trong khi đó, Got It đóng vai trò là nhà cung cấp kho quà tặng khổng lồ, với mạng lưới hơn 300 thương hiệu phổ biến và 24.000 điểm chấp nhận thanh toán trên toàn quốc.

Sự hợp tác này tạo ra một vòng tuần hoàn giá trị. Đối với người tiêu dùng, trải nghiệm trở nên liền mạch và quyền lợi được gia tăng. Họ có thể tích điểm ở một thương hiệu nhưng lại sử dụng điểm đó để đổi voucher điện tử của Got It và sử dụng ở hàng trăm thương hiệu khác.

Đối với doanh nghiệp, lợi ích còn rõ ràng hơn, khi không cần phải đầu tư nguồn lực khổng lồ để tự xây dựng một kho quà tặng phức tạp.

Thay vào đó, họ có thể ngay lập tức truy cập vào hệ sinh thái quà tặng đa dạng của Got It, từ các voucher F&B, bán lẻ, làm đẹp cho đến các dịch vụ cao cấp như đặt sân golf, nhà hàng sang trọng. Điều này giúp tối ưu hóa chi phí, giảm gánh nặng vận hành và cho phép họ tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Bà Trần Tố Uyên, Tổng giám đốc LynkiD, nhận định: “Hợp tác này mang lại giá trị thiết thực hơn cho người dùng và lợi thế cạnh tranh rõ rệt cho doanh nghiệp. Việc liên thông kho quà giữa hai nền tảng giúp khách hàng tiếp cận và mở rộng trải nghiệm tiêu dùng đa dạng, liền mạch và tiện lợi hơn bao giờ hết”.

Tương tự, bà Nguyễn Hải Minh, Giám đốc điều hành DayOne (đơn vị chủ quản Got It), chia sẻ rằng sự tương đồng về giá trị cốt lõi là nền tảng cho sự hợp tác bền vững. Mô hình này là một minh chứng cho thấy tương lai của ngành loyalty không nằm ở sự cạnh tranh riêng lẻ, mà nằm ở khả năng hợp tác để tạo ra một giá trị chung lớn hơn.

Nguồn: Theleader

FSB khai giảng khóa học “AI-Driven Transformation” dành cho cán bộ SHB

Ngày 09/08/2025, Viện Quản trị & Công nghệ FSB – Trường Đại học FPT đã chính thức khai giảng khóa học đầu tiên trong chương trình hợp tác đào tạo với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Đây là dấu mốc quan trọng mở đầu chuỗi hoạt động đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản trị và vận hành trong kỷ nguyên chuyển đổi số.

Chương trình “AI-Driven Transformation”

Khóa học tập trung vào chủ đề “AI-Driven Transformation”, hướng đến mục tiêu giúp cán bộ SHB: Hiểu và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong quản trị và vận hành, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong bối cảnh số hóa và Tối ưu hiệu quả hoạt động, gia tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong thời đại AI.

Open Ceremony khóa học “AI-Driven Transformation”

Trong khuôn khổ hợp tác, chương trình bao gồm 05 lớp học, dành cho cán bộ SHB trên toàn quốc, được tổ chức dưới hai hình thức offline và online để đảm bảo tính linh hoạt, thuận tiện cho học viên.

FSB triển khai đào tạo AI cho đội ngũ cán bộ SHB

Hợp tác chiến lược FSB – SHB

Sự hợp tác lần này không chỉ khẳng định cam kết của SHB trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn thể hiện vai trò tiên phong của FSB trong việc cung cấp các chương trình đào tạo AI thực chiến cho doanh nghiệp.

Việc khai giảng khóa học “AI-Driven Transformation” mở ra cơ hội để cán bộ SHB tiếp cận tri thức tiên tiến, đồng thời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hành trình chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị của ngân hàng.

Tin FSB

Chân dung lãnh đạo mới thời AI

Sự tăng tốc và chuyển đổi số thời AI đòi hỏi người lãnh đạo không chỉ khả năng thích nghi mà còn là tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh hành động.

Ông Benoit Chalifoux – Chủ tịch HĐQT Centre d’apprentissage parallèle de Montréal (CAP)

Cơ hội không thể bỏ lỡ

Chính phủ Việt Nam đã chủ động xác định tiềm năng to lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) và đang xây dựng một môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo thông qua các chính sách định hướng và sáng kiến chiến lược. Chính phủ cũng đã triển khai các chương trình nhằm mục tiêu biến AI thành động lực phát triển kinh tế bền vững.

Ước tính tới năm 2040, AI sẽ trở thành yếu tố cốt lõi trong quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đóng góp 120 – 130 tỷ USD, theo báo cáo Nền kinh tế AI của Việt Nam được công bố hồi giữa tháng 6.

Hai động lực tăng trưởng chính là tăng trưởng doanh thu từ tiêu dùng thông qua nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ có ứng dụng AI và tiết kiệm chi phí do tăng năng suất thông qua tự động hóa, phân tích dự báo và cải thiện hiệu suất nhờ sử dụng công nghệ AI.

Những con số này nhấn mạnh tiềm năng chuyển đổi mạnh mẽ của AI và các cơ hội hấp dẫn mà công nghệ này mở ra cho các doanh nghiệp, nhà khởi nghiệp và các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên bên lề hội thảo Lãnh đạo công nghệ và đột phá trong kỷ nguyên số và AI, bà Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc Viện Quản lý Vietstar, cho rằng, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế trong phát triển và ứng dụng AI.

“Việt Nam có lực lượng dân số trẻ đông đảo với khả năng thích nghi, ứng dụng các công nghệ mới tốt. Tỷ lệ sử dụng thiết bị di động cao cùng với hạ tầng mạng rộng khắp cũng là lợi thế. Ngay cả thị trường hơn 100 triệu dân cũng mang đến tiềm năng thử nghiệm tốt hơn nhiều nước trong khu vực”, bà Hằng đánh giá.

Không chỉ vậy, theo bà Hằng, Việt Nam còn là đất nước có nền tảng toán học tốt, người Việt lại ham học hỏi, từ đó tạo bước đệm vững chắc trong ứng dụng AI nói riêng và khoa học công nghệ nói chung.

Báo cáo Chỉ số sẵn sàng AI của chính phủ do Oxford Insights công bố năm ngoái cho thấy, Việt Nam xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN và đứng thứ 59/193 quốc gia và vùng lãnh thổ về mức độ sẵn sàng.

Với doanh nghiệp, 100% tổ chức tại Việt Nam được khảo sát cho biết đã xác định rõ ràng một chiến lược AI hoặc đang trong quá trình xây dựng một chiến lược, theo báo cáo của Cisco năm ngoái.

Trong đó, đa số tổ chức cho biết đã đạt được mức độ triển khai AI tiên tiến trong lĩnh vực an ninh mạng, theo đó là cơ sở hạ tầng và quản lý dữ liệu.

Lãnh đạo thời AI

Từ kinh nghiệm trao đổi với các lãnh đạo doanh nghiệp, bà Hằng cho biết, các doanh nghiệp đều nhận thức rõ ràng về lợi thế cạnh tranh, tầm quan trọng của chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ.

Tuy nhiên, bắt đầu từ đâu, làm như thế nào để chuyển đổi hiệu quả trong thời gian nhất định vẫn là câu hỏi khó với nhiều doanh nghiệp Việt, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

“Không ít doanh nghiệp còn hoài nghi về tác động thật sự của AI tới doanh nghiệp. Nguyên nhân một phần là bởi năng lực quản trị điều hành và tư duy tích hợp công nghệ của những người lãnh đạo còn hạn chế, dẫn tới sự hoài nghi, lo lắng và không định hình được con đường cho ứng dụng công nghệ”, bà Hằng giải thích.

AI bao gồm rất nhiều loại, như AI trong sản xuất kinh doanh, AI trong vận hành, AI trong du lịch khách sạn, AI trong tài chính. “Nhưng đâu là bộ công cụ về AI, đâu là những phần mềm về AI ứng dụng cho từng doanh nghiệp thì không phải lãnh đạo nào cũng biết. Điều này đòi hỏi các nhà điều hành doanh nghiệp không chỉ tư duy quản trị mà còn là sự hiểu biết nhất định về AI, khoa học dữ liệu”, bà Hằng phân tích thêm.

Bà nhấn mạnh, để chuyển đổi thành công, công nghệ là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ – và là nhân tố quyết định – chính là tư duy và năng lực lãnh đạo. Nếu như cuộc cách mạng công nghệ đầu tiên từng khiến nhiều tổ chức loay hoay giữa đổi mới và đổ vỡ, thì ở thời điểm hiện tại, sự tăng tốc và chuyển đổi số đòi hỏi nhiều hơn cả khả năng thích nghi là tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh hành động.

Chia sẻ đồng quan điểm trong trao đổi với phóng viên, ông Benoit Chalifoux – Chủ tịch HĐQT Centre d’apprentissage parallèle de Montréal (CAP), tác giả cuốn sách “Khai phá nội lực: Sức mạnh tiềm ẩn của nghệ thuật lãnh đạo”, cho rằng, nhà lãnh đạo và quản lý Việt Nam cần nắm bắt quy luật nền tảng của chuyển đổi số, dự đoán xu thế tương lai, và quan trọng hơn: định vị mình như những người kiến tạo giá trị trong thời đại mới.

Theo vị diễn giả này, trong thế giới hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ, dẫn đầu không chỉ là việc sử dụng công nghệ – mà là trở thành người tạo ra nhân tài và tác động tích cực.

“Người lãnh đạo giờ đây không chỉ dừng lại ở việc quản lý nhân viên mà còn cần trở thành một người truyền cảm hứng cho đội ngũ nhân sự. Họ cần phải táo bạo trong các quyết định để tìm kiếm và chấp nhận những kiến thức mới, chấp nhận rằng đôi khi quyết định tốt sẽ không đến ngay từ lần đầu tiên”, ông giải thích.

Không chỉ vậy, những người lãnh đạo cần sự đồng cảm để tôn trọng hành trình học và chấp nhận cái mới của đội ngũ, để hiểu rằng bất cứ ai cũng có thể mắc sai lầm và tha thứ cho những sai lầm đó.

“Họ (người lãnh đạo) cũng cần sự đồng cảm để có thể kết nối với thực tế của khách hàng, với đồng nghiệp để thực sự mang lại tầm nhìn chung tốt hơn để đồng dẫn dắt tương lai”, ông Benoit nhấn mạnh.

Trong báo cáo Chỉ số Xu hướng công việc năm 2025, bà Nguyễn Quỳnh Trâm, Tổng giám đốc Microsoft Việt Nam, cho biết: “Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên nơi mọi tổ chức và doanh nghiệp – dù lớn hay nhỏ – đều có cơ hội bứt phá nhờ vào sức mạnh của công nghệ. AI đã mở ra cánh cửa tiếp cận tri thức mà trước đây chỉ dành cho các tập đoàn lớn, giúp mọi cá nhân và doanh nghiệp vươn tới thành công vượt trội mà không còn bị giới hạn bởi quy mô nhân sự hay trình độ chuyên môn”.

Tuy nhiên, bà cũng lưu ý rằng, công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi con người sẵn sàng đón nhận và đồng hành cùng nó. Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo không chỉ đầu tư vào công nghệ, mà còn cần ưu tiên phát triển tư duy số, kỹ năng số cho đội ngũ, và thúc đẩy sự cộng tác hiệu quả giữa con người và các tác nhân AI. Đây chính là yếu tố then chốt để doanh nghiệp Việt Nam tăng tốc và bứt phá trong thời đại AI, bà Trâm nhấn mạnh.

Nguồn: The Leader

Foreign firms go on hiring spree

Foreign enterprises across industries are expanding their payrolls, maintaining strong hiring initiatives to support long-term objectives.

Electric motorbike manufacturing in a factory of Honda Vietnam in Vinh Phuc Province, March 2025. Photo by Nguyen Linh

German business consultancy SAP last week announced plans to invest EUR150 million (US$175 million) over the next five years in its SAP Labs Vietnam research and development center in HCMC.

Since September last year it has hired over 200 people, and hopes to add another 350 this year.

The technology sector saw a 30% year-on-year jump in hiring demand in the second quarter, according to recruitment and outsourcing company Adecco.

The increase was partly driven by the expansion of technology centers established by foreign corporations in Vietnam.

Across various sectors beyond tech too foreign enterprises continue to seek new talent.

In August Honda’s factory in the northern province of Phu Tho hired hundreds of workers to support the launch of electric two-wheeler sales.

Foxconn in the northern province of Bac Ninh sought to hire engineers in a range of specializations, production team leaders and warehouse staff.

The hiring momentum among foreign investors extends to both established players and new investors, who are flooding into the country.

The American Chamber of Commerce in Vietnam (AmCham) reported stable hiring trends in the first half of 2025, with 45% of its member companies expanding their workforces and 16% keeping them steady.

This shows many enterprises are focused on long-term growth, it noted.

Adecco also reported a 59% year-on-year increase in demand in manufacturing and engineering, largely propelled by foreign direct investment, which jumped by 27% in the first seven months.

Investors spent $13.6 billion, the highest level for the January-July period since 2021.

In northern Vietnam, new factories have spurred demand for experienced Vietnamese managers to oversee construction and operations.

Established facilities are looking for candidates to fill key technical roles such as product engineers and quality managers, who account for nearly 70% of hiring demand, according to Adecco.

The renewable energy sector is also witnessing a wave of hiring at projects under the adjusted national power plan.

Recruitment for solar, wind, and liquefied gas projects in Ninh Thuan Province (now known as Khanh Hoa) and Thanh Hoa Province surged by 62%.

“While most large-scale projects are awaiting approval, demand for technical personnel has already begun, especially in design, engineering and project development,” Adecco’s report said.

The steady hiring by foreign enterprises is helping brighten the labor market outlook.

A second quarter report by recruitment platform Vieclam24h said 26.4% of all enterprises trimmed their workforce in the past 12 months.

“Vietnam’s labor market is caught between layoffs and cautious hiring. Enterprises prioritize workforce stability, focusing on roles that deliver tangible value.”

It said 56.2% plan to enlarge their workforce in the third quarter, albeit selectively.

Current demand is concentrated around sales, production/technical engineers and skilled manual laborers.

Chuong Nguyen, director of Adecco Vietnam’s recruitment rervices, expects a stable trajectory in the third quarter on the back of a global economic recovery and stabilizing trade relations and domestic investments in infrastructure development.

“Enterprises will continue with selective hiring strategies.”

He added that key roles with skills aligned to future trends would be prioritized to optimize operations and enhance adaptability.

Source: e.vnexpress